Inside Bar (Thanh bên trong): là thanh có phạm vi (biên độ giao dịch) nhỏ hơn và nằm trong phạm vi của thanh trước đó.

Hình 1. Inside Bar trên hợp đồng VN30F1M ngày 29/01/2026.
Inside bar phản ánh sự suy giảm động lượng trong một xu hướng. Đó là một thanh nến nơi hình thành vùng tắc nghẽn ngắn hạn. Giống như hầu hết các vùng tắc nghẽn, nó phản ánh sự tạm dừng. Một giai đoạn cân bằng không định hướng chờ đợi điều gì đó xảy ra để báo hiệu hướng xu hướng tiếp theo. Trong một mô hình tắc nghẽn lớn hơn, chẳng hạn như hình tam giác hoặc hình chữ nhật, Inside Bar ít có ý nghĩa vì nó chỉ phản ánh sự thiếu chuyển động trong mô hình lớn hơn.
Một số nhà phân tích vẽ các mô hình lớn hơn loại bỏ các Inside Bar. Đặc biệt là khi xác định điểm xoay, bởi vì các thanh nến này không thể hiện bất kỳ hành động giá quan trọng nào. Tương tự như cách biểu đồ điểm và hình (Point and Figure chart) loại bỏ các giai đoạn buồn tẻ. Tuy nhiên, trong một xu hướng, Inside Bar cung cấp một số thông tin hữu ích và có thể tạo ra các tín hiệu ngắn hạn có lợi nhuận. Cũng như trong mô hình khoảng trống (GAP), bối cảnh vị trí của mô hình quan trọng hơn cấu trúc của mô hình.
Toby Crabel (1989) nhận thấy rằng, ngay cả khi không có một nhóm thông tin khác, một số tổ hợp Inside Bar trong giai đoạn 1982-1986 trên thị trường tương lai S&P đã đạt được tỷ lệ thắng cao hơn mức trung bình. Crabel đã thử nghiệm mua vào lúc mở cửa nếu giá mở cửa cao hơn giá đóng cửa của nến Inside Bar trước đó. Và bán ra lúc mở cửa nếu giá mở cửa thấp hơn giá đóng cửa của nến Inside Bar trước đó (xem Hình 2).

Hình 2. Mở cửa cao hơn so với mức đóng cửa Inside Bar trước đó.
Chiến lược này mang lại tỷ lệ thắng 68%. Tỷ lệ thắng này sau đó có thể được cải thiện bằng cách thêm các yêu cầu khác, chủ yếu liên quan đến đặc điểm của các thanh nến trước Inside Bar và theo xu hướng trước đó. Một chiến lược, ví dụ, là mua nếu giá đóng cửa của Inside Bar cao hơn giá đóng cửa ngày hôm trước và giá mở cửa của thanh nến hiện tại cao hơn. Tương tự, bạn sẽ bán khi giá đóng cửa của Inside Bar thấp hơn giá đóng cửa ngày hôm trước và giá mở cửa của thanh nến hiện tại thấp hơn giá đóng cửa của Inside Bar. Với chiến lược phức tạp hơn một chút này, tỷ lệ thắng đạt 74%.
Crabel đã tiến hành các thử nghiệm nội bộ của mình kỹ hơn một chút, tìm kiếm mô hình bốn ngày. Nếu ngày thứ 2 có mức đáy cao hơn ngày thứ 1, ngày thứ 3 là một Inside Bar, và ngày thứ 4 mở cửa thấp hơn mức giữa và mức đóng cửa của ngày Inside Bar đó, thì tín hiệu bán được tạo ra. Chiến lược này được minh họa trong Hình 3.

Hình 3. Mô hình giao dịch 4 ngày với Inside Bar.
Trong thời gian thử nghiệm của Crabel, chiến lược này có tỷ lệ thắng 80%. Chiến lược ngược lại sẽ xảy ra khi ngày thứ 2 có mức đỉnh thấp hơn ngày thứ 1. Ngày thứ 3 là một Inside Bar. Và ngày thứ 4 mở cửa cao hơn mức đóng cửa của ngày Inside Bar đó, kích hoạt tín hiệu mua. Chiến lược này tạo ra tỷ lệ thắng 90%. Mặc dù các chiến lược này có tỷ lệ thắng cực kỳ cao, nhưng chúng chỉ xảy ra trung bình hai lần một năm.
Điều mà Crabel chứng minh, bất kể tỷ lệ phần trăm là bao nhiêu. Là việc mở cửa một thanh nến sau một Inside Bar cho thấy xu hướng mạnh mẽ hướng tới hướng giá mới. Mặc dù thử nghiệm của ông được thực hiện trong thị trường tăng giá vào cuối những năm 1980. Và nó có phần lỗi thời so với hiện nay. Nhưng dù sao, các thử nghiệm vẫn cho thấy một số mối tương quan giữa sự phá vỡ trong ngày (chiến lược Opening Range Breakout – người dịch) của Inside Bar và hiệu suất trong tương lai. Tiêu chí thoát lệnh của ông là đóng vị thế vào giá đóng cửa của ngày giao dịch được thực hiện. Điều này giới hạn các giao dịch như vậy chỉ dành cho các nhà giao dịch trong ngày. Tuy nhiên, nến Inside Bar cũng có thể xuất hiện trên biểu đồ nến tuần. Điều này thường báo hiệu một vùng tích lũy lớn hơn, tương tự như cờ hiệu hoặc cờ đuôi nheo trên biểu đồ ngày. Trong những trường hợp này, nến Inside Bar có thể hữu ích cho giao dịch dài hạn.
Trích từ quyển Charted Market Technician. Uworld LLC xuất bản 2024, trang 176-178.
Dịch & Biên soạn: Trần Quang Khánh.
