Sự phá vỡ trong PTKT

Trần Quang Khánh
6 Min Read

Chúng ta không ít lần gặp các phân tích thị trường yêu cầu giá phải được “phá vỡ” một mức nào đó. Từ đó mới thực hiện các giao dịch tương ứng. Vậy sự phá vỡ là gì, và chúng ta có thể đo lường được nó?

Khi giá vượt qua vùng hỗ trợ/ cản, hay đơn giản là 1 mức giá, đó là một tín hiệu quan trọng về sự thay đổi cung cầu đã diễn ra. Sự phá vỡ cũng diễn ra ở đường xu hướng.

Nhưng thế nào là vượt qua? Tại sao cùng 1 hành động giá, có trader nói là đã phá, trong khi trader khác lại khăng khăng là chưa phá? Tất cả sẽ được xử lý, nếu chúng ta cùng sử dụng 1 bộ lọc phá vỡ giống nhau!

Hình 1. Hợp đồng VN30F1M với mức cản và hỗ trợ được xác định, khung thời gian 15 phút.

Chúng ta đến với tình huống ở Hình 1. Ngày 12, hợp đồng VN30F1M xuất hiện mức cản và hỗ trợ khá rõ ràng, biểu thị bằng đường xu hướng ngang.

Để xác nhận một sự phá vỡ, chúng ta có nhiều bộ lọc, có thể liệt kê sau đây:

 

1. Bộ lọc đóng cửa:

Sự phá vỡ trong 15 phút diễn biến của nến thường được bỏ qua. Nếu đóng nến M15 phá qua (tức giá thấp hơn mức hỗ trợ) được coi là hợp lệ. Xem Hình 2. Đây cũng là bộ lọc tôi thường sử dụng.

Hình 2. Phá vỡ bằng bộ lọc đóng cửa.

 

2. Bộ lọc điểm & phần trăm giá:

Đối với giao dịch dài hạn, khi giá vượt qua mức hỗ trợ/cản 1-3%, được coi là phá vỡ hợp lệ.

Đối với giao dịch ngắn hạn, số điểm hoặc % giá vượt qua sẽ phụ thuộc vào nhu cầu của mỗi trader thông qua backtest.

3. Bộ lọc thời gian:

Số phiên liên tiếp đóng dưới mức hỗ trợ sẽ đem lại kết luận phá vỡ. Ví dụ, sau khi trader quan sát thấy 1 nến M15 đóng cửa dưới mức hỗ trợ, anh ta cần thêm 1-2-3 nến tiếp theo để xác nhận. Số lượng nến xác nhận càng nhiều, đem lại sự chắc chắn là phá vỡ hợp lệ. Tuy nhiên, sự chắc chắn đó cũng có mặt trái, nó làm giao dịch càng chậm được kích hoạt. Điều này có thể làm bỏ lỡ nhiều phần lợi nhuận tiềm năng.

 

4. Bộ lọc khối lượng giao dịch:

Khối lượng giao dịch lớn tại thời điểm phá vỡ xác định các thành viên thị trường tham gia nhiệt tình. Thông thường, các trader sẽ so sánh khối lượng của nến phá vỡ với những nến trước đó. Hoặc đơn giản hơn, họ so sánh khối lượng với SMA khối lượng 20 phiên chẳng hạn. Cách này có ưu điểm là hoàn toàn định lượng và có thể code.

 

5. Bộ lọc độ biến động:

Trader sử dụng Beta, độ lệch chuẩn hay ATR để tính toán độ lớn giá làm bộ lọc. Ví dụ, khi giá đóng cửa thấp hơn mức hỗ trợ 1 ATR, tôi kết luận sự phá vỡ là hợp lệ.

Nhìn chung, mỗi trader có thể sử dụng 1 hoặc kết hợp nhiều bộ lọc với nhau. Trader A cần 1 nến đóng cửa dưới mức hỗ trợ. Trader B cần 2 nến. Và Trader C lại cần 2 nến kết hợp với biên độ 5 điểm đối với hợp đồng VN30F1M để xác nhận. Như vậy, với cùng một hành động giá, cùng thời điểm, nhưng cách tiếp cận bộ lọc khác nhau, sẽ đem lại ứng xử khác nhau.

Tuy nhiên, có 1 sự đánh đổi khi sử dụng bộ lọc. Nếu số lượng bộ lọc ít, khả năng lọc sẽ kém đi. Bù lại, chúng ta có thể tham gia vào vận động giá sớm trong trường hợp có lợi. Và ngược lại, khi chúng ta áp dụng nhiều bộ lọc, sự xác nhận sẽ tăng lên. Nhưng điều này cũng khiến chúng ta có thể bị chậm trễ với hành động giá. Điều này đặc biệt quan trọng, khi hầu hết sự phá vỡ thật thường kèm theo động lượng lớn, và giá nhanh chóng bị đẩy xa mức hỗ trợ/cản. Từ đó kéo giảm cơ hội lợi nhuận của chúng ta.

Số lượng bộ lọc nhiều hay ít, sẽ phụ thuộc hoàn toàn vào nhu cầu & khẩu vị rủi ro của từng trader. Việc chúng ta sử dụng bộ lọc một cách hợp lý cũng đem lại nhiều lợi thế trong thực chiến, nhất là khả năng giao dịch  nhất quán.

Chúc trader thành công!

 

Tác giả: Trần Quang Khánh

 

Share This Article
Leave a Comment