Trung bình động là kỹ thuật phân tích kinh điển trong thế giới PTKT. Sự ứng dụng của MA trong PTKT bắt đầu được chú ý từ thế kỷ 18. Khi Charles Dow, người được coi là cha đẻ của PTKT hiện đại áp dụng nó để tạo ra chỉ số Dow Jones.
Hiện nay, kỹ thuật MA vẫn còn được tin dùng bởi các NĐT chuyên nghiệp bởi sự đơn giản và hiệu quả của nó.
1. Simple Moving Average – Trung bình động đơn giản.
1.a. Khái niệm.
– Vận động giá có thể lớn và ngẫu nhiên tại mỗi thời điểm. MA làm mượt chuỗi dữ liệu giá hỗn loạn, giúp ta dễ dàng nhận diện xu hướng giá. Xem hình 1.
– MA 10 phiên là mức giá bình quân của 10 phiên giao dịch gần nhất.
1.b. Đặc điểm:
– Khi thời gian trôi qua, giá mới được tạo thành, giá cũ nhất bị loại ra, giá trị trung bình cũng thay đổi. Do đó nó được gọi là đường trung bình động.
– SMA là chỉ báo trễ vì nó phản ánh giá trung bình 10 phiên, thay vì chỉ phản ánh giá hiện tại.

– Số phiên tính toán ngắn sẽ có thay đổi và phản ứng với thị trường nhanh hơn.
– Số phiên dài sẽ chậm thay đổi nhưng nó giữ được sự nhất quán trong việc theo dõi diễn biến của xu hướng.
– SMA hướng lên được coi là xu hướng tăng và ngược lại.

Hình 1. Đường trung bình động đơn giản 3 phiên (màu cam).
– Việc sử dụng giá đóng cửa để tính MA là phổ biến. Tuy nhiên, trader có thể tham khảo sử dụng các dữ liệu giá khác nhằm mở rộng sự hiểu biết về MA: lấy trung bình (low + high)/2, hay trung bình (low+high+close)/3.
2. Exponential Moving Average – Trung bình động hàm mũ.
2.a. Hiệu ứng loại bỏ dữ liệu (Drop-off effect, Kaufman, 1998):
– Việc loại bỏ dữ liệu giá ban đầu của SMA có thể là vấn đề lớn, nếu giá bị loại bỏ có vai trò rất quan trọng. Khi đó, SMA không phản ánh đúng vận động cũng như độ biến động giá.
– Trung bình động hàm mũ được tạo ra nhằm loại bỏ hiệu ứng này.


Hình 2. So sánh SMA và EMA 26 phiên trên hợp đồng tiếp diễn VN30F1M, khung D1.
Có thể thấy ở Hình 2, đường EMA (màu tím) bám sát hành động giá hơn SMA (màu xanh), do nó được nhấn mạnh mức giá hiện tại hơn.
2.b. Phương pháp MA của Welles Wilder:
– Đặt trọng số nhiều hơn ở giá hiện tại:
![]()
– Ví dụ, Wilder MA 14 ngày bằng MA trước đó nhân với 13 ( tức là 14 -1, với 14 là số phiên trung bình), cộng với giá hôm nay, rồi chia cho 14 ( tức n).
– Wilder MA được mặc định ứng dụng tính toán cho ATR, RSI, DMI, ADX.
Trader cần lưu ý điều này khi sử dụng các chỉ báo của Wilder.
3. Kỹ thuật một đường MA.

3.1. Quy tắc giao dịch 1: Sử dụng tín hiệu giao cắt giữa giá và MA
Mua khi giá cắt lên trên đường xu hướng ( ở đây là MA).
Bán khi giá cắt xuống dưới đường xu hướng.
3.2. Quy tắc 2: Sử dụng tín hiệu đóng cửa và MA
Mua khi giá đóng cửa trên MA.
Bán khi giá đóng cửa dưới MA.
Mỗi lựa chọn sẽ tạo ra một hồ sơ hệ thống riêng.
3.3. Quy tắc 3: Sử dụng tín hiệu từ hướng của MA. Xem hình 3.
– Mua khi MA chuyển sang hướng tăng.
– Bán khi MA chuyển hướng sang giảm.
3.4. Nhận xét:
Không có quy tắc nào tốt hơn. Các quy tắc theo thứ tự sẽ làm tăng độ trễ, nhưng bù lại sẽ làm tăng tính xác nhận. Việc sử dụng quy tắc nào sẽ do lựa chọn của trader.
Ví dụ, các trader giao dịch nhanh sẽ lựa chọn quy tắc 1 để tăng độ nhạy, và kích hoạt tín hiệu giao dịch sớm. Anh ta phải chấp nhận sự thiếu chính xác ở những tín hiệu này.
Ngược lại, quy tắc 3 làm tăng độ trễ so với phương án giao cắt, áp dụng hiệu quả với giao dịch “chậm”.
3.5. Ngoài việc ứng dụng để tạo tín hiệu giao dịch, MA cũng được ứng dụng để:
– Xác định hỗ trợ và cản cũng như phá vỡ xu hướng. Một đường MA dài hạn có thể bám theo thị trường và đóng vai trò như một đường hỗ trợ trong xu hướng tăng. Như vậy, MA cũng có thể được sử dụng như một đường trailing stop.
– Xác định các mức giá cực đoan: giá có khuynh hướng tìm về đường trung bình của mình ( phương pháp mean reversion).
– Đưa ra tín hiệu cụ thể: có thể là giá cắt đường MA hay hai đường MA cắt nhau. Những kỹ thuật này có thể kiếm lợi nhuận trong một xu hướng mạnh, nhưng kém hiệu quả khi thị trường đi ngang.
Trong 4 cách sử dụng MA ở trên, việc xác định xu hướng là có hiệu quả nhất. Chúng ta biết rằng, lý thuyết Dow chỉ ra việc quan trọng là tìm xu hướng chính và giao dịch với nó.

Hình 3. Tín hiệu giao dịch tạo bởi quy tắc 3, hợp đồng tiếp diễn VN30F1M, 80 ngày.
4. Kỹ thuật hai đường MA cắt nhau.
– Sử dụng hai đường MA với số phiên khác nhau “đáng kể” (lý thuyết chu kỳ):
– MA với số phiên nhỏ hơn là MA nhanh, để xác định thời điểm hành động.
– MA với số phiên lớn hơn là MA chậm, dùng để xác định xu hướng chính.
4.a. Trường hợp a:
– Mua khi MA nhanh cắt lên trên MA chậm. Đồng thời MA chậm đang hướng lên. Bán khi MA cắt xuống dưới MA chậm. Đồng thời MA chậm đang hướng xuống.
– Nhận xét: luôn có trạng thái, từ mua sang bán và ngược lại khi MA nhanh cắt lên xuống MA chậm.
4.b. Trường hợp b:
Mua khi giá hiện tại cắt qua cả 2 đường MA và thoát lệnh mua khi giá cắt xuống dưới một trong hai đường MA. Bán khi giá hiện tại cắt xuống dưới cả 2 đường MA và thoát lệnh bán khi giá cắt lên trên một trong hai đường MA.
4.c. Trường hợp c:
Mua khi MA nhanh hướng lên và MA chậm cũng hướng lên. Bán khi MA nhanh và MA chậm cùng hướng xuống. Thoát lệnh khi hai đường MA khác hướng nhau.
Nhận xét: trường hợp b và c có quy tắc vùng trung tính, nơi mà không có trạng thái giao dịch. Việc thoát mà không đảo chiều giao dịch có lợi thế về kiểm soát rủi ro.
5. Kỹ thuật ba đường MA cắt nhau.
5.a. Sử dụng 3 đường MA với số phiên khác nhau:
– MA chậm xác định xu hướng.
– MA trung bình làm giảm thời gian giữ lệnh.
– MA nhanh xác định thời điểm hành động.
5.b. Mô hình giao cắt 4 – 9 – 18 ngày:
– Thịnh hành vào thập niên 1970s.
– Bài kiểm tra được chạy trên HDTL trái phiếu Eurobund từ 1990 tới giữa 2011.
– Kết quả tốt hơn nhưng giảm số lượng giao dịch đáng kể.

Hình 4. So sánh kết quả giao dịch áp dụng 2 và 3 đường MA cắt nhau, Eurobunds, 1990 đến giữa 2011.
5.c. Nếu MA 20 tốt, vậy MA 19 phiên thì sao?
– Mỗi ( hoặc nhiều) tham số sẽ tạo ra các hồ sơ hệ thống riêng biệt, hoàn toàn do lựa chọn của trader. Tuy nhiên, việc lựa chọn các tham số phổ biến có thể làm quá trình xây dựng hệ thống đơn giản hơn.
– Trước đây, máy tính chưa ra đời và mọi tính toán được trader dùng tay, khiến cho các chu kỳ theo lịch kinh tế trở nên phổ biến: tuần, tháng và thực hiện ở D1.
– Các chu kỳ thành công phổ biến ở giai đoạn này: 3 ngày cho các giao dịch ngắn hạn; 5 ngày cho giao dịch theo tuần; 20 – 23 ngày đại diện cho giao dịch theo tháng; 63 ngày đại diện cho quý và tất nhiên, 252 ngày đại diện cho 1 năm. Mốc 200 ngày giao dịch sử dụng cho chứng khoán không rõ ràng về lý do được sử dụng.
– Đối với các giao dịch trong ngày, khi sử dụng các tốc độ xu hướng có thể chúng ta sẽ phải chú ý tới các yếu tố đặc biệt, như thời điểm giao phiên.
Tác giả: Trần Quang Khánh.