1. Quá mua và quá bán
– Bộ dao động có thể có khoảng dao động giới hạn hoặc không giới hạn. Giới hạn này khiến chỉ báo dao động di chuyển trong một khoảng, thường biểu thị theo phần trăm.
Ví dụ, RSI thường được sử dụng ngưỡng quá bán 30, quá mua 70, và ngưỡng trung tính 50. Trong khi đó, MACD lại dao động quanh ngưỡng trung tính 0, mà không có vùng quá mua, quá bán.

Hình 1. RSI và ngưỡng quá bán/quá mua (30/70); MACD với ngưỡng trung tính 0, hợp đồng VN30F1M, khung H1.
– Khoảng dao động được bao bởi các đường cực trị, có giá trị cố định hoặc theo một dải giá trị, hoặc đường bao.
– Chúng có hiệu quả nhất khi giao dịch tài sản đang vận động trong một vùng giá ( trading range).
– Khi tài sản đang trong một xu hướng, những chỉ báo này thường đưa ra tín hiệu sai. Như ở Hình 1, giai đoạn ngày 11 đến ngày 16, xu hướng tài sản tăng, và RSI luôn nằm trong vùng quá mua. Cần lưu ý, quá mua không có nghĩa với tín hiệu bán, và ngược lại, quá bán không đồng nghĩa với tín hiệu mua. Chúng ta cần thêm bằng chứng xác nhận để tạo ra tín hiệu hành động.
– Điều quan trọng, chúng ta cần xác định chỉ báo đang ở trạng thái trung tính hay quá mua/quá bán để áp dụng chiến thuật phù hợp. Một trong những tín hiệu xác định trạng thái này là Phục hồi thất bại – Failure Swing.
3. Phục hồi thất bại – Failure Swing
– Phục hồi thất bại là một dạng cụ thể của phá vỡ tại vùng quá mua hoặc quá bán.
– Phục hồi thất bại âm ( Negative failure swing): bộ dao động phá xuống qua một ngưỡng quá mua tạo điểm đảo chiều, sau đó nó tăng trở lại, cố gắng tiến vào vùng quá mua nhưng thất bại.
– Phục hồi thất bại dương (Positive failure swing): ngược lại ở vùng quá bán.

Hình 2. Tín hiệu phục hồi thất bại tại đỉnh và đáy, áp dụng cho chỉ báo RSI.
*Các mức dừng lỗ theo tín hiệu phục hồi thất bại:
– Đặt trên một trong hai mức giá nơi chỉ báo tạo đỉnh.
– Hoặc, cách tiếp cận an toàn hơn là đặt trên mức giá nào cao hơn.
– Việc lựa chọn thời điểm vào lệnh theo các mẫu hình giá khác nhau sẽ tạo ra các hồ sơ rủi ro lợi nhuận khác nhau.